bài học nhận thức
Tlh nhan thuc. bai 1 1. 13-Jan-16 1 TÂM LÝ HỌC NHẬN THỨC (Cognitive Psychology) Giảng viên: ThS. Nhan Thị Lạc An Thời gian: 45 tiết – 11 buổi TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOAHỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOATÂM LÝ HỌC Tài liệu tham khảo •E. Bruce Goldstein (2011), Cognitive Psychology – Connecting Mind, Research, and Everyday Experience, Thomson Wadsworth.
Je Cherche Un Site De Rencontre Totalement Gratuit. Ngày 8-6, các nhà khoa học thuộc Cơ quan Đại dương và Khí quyển quốc gia Mỹ NOAA cho biết hình thái khí hậu El Nino đã chính thức quay lại. Khu vực đất ở Hồ Sau Tây Ban Nha nứt nẻ do hạn hán - Ảnh CNNEl Nino quay lại, nhiều khả năng sẽ dẫn đến các hiện tượng thời tiết cực đoan trong năm nay như bão nhiệt đới tại các đảo Thái Bình Dương, mưa lớn tại Nam Mỹ và hạn hán tại 3 năm liên tiếp tồn tại La Nina - hình thái khí hậu thường khiến nhiệt độ toàn cầu giảm nhẹ, El Nino đã xuất hiện trở lại, khi khu vực Thái Bình Dương gần xích đạo có nhiệt độ cao hơn trung bình vào tháng trước. Theo nhà khoa học khí hậu Michelle L'Heureux của NOAA, tùy thuộc vào cường độ, El Nino có thể ảnh hưởng đến thời tiết ở nhiều mức như làm tăng nguy cơ mưa lớn và hạn hán tại một số khu vực trên thế giới. Biến đổi khí hậu có thể làm trầm trọng hơn hoặc giảm bớt một số tác động của El Nino, chẳng hạn như El Nino có thể dẫn tới mức nhiệt cao kỷ lục, đặc biệt tại những nơi vốn đang ghi nhận mức nhiệt cao hơn trung bình trong giai đoạn này. Tuần này, Úc đã cảnh báo El Nino khiến quốc gia vốn đã có nguy cơ cháy rừng cao này trải qua những ngày khô nóng hơn, trong khi Nhật Bản cho biết El Nino là một phần nguyên nhân khiến nước này đón mùa xuân nóng kỷ nhận định ảnh hưởng của El Nino tại Mỹ vẫn chủ yếu trong mùa hè, tuy nhiên sẽ mạnh lên từ cuối mùa thu đến sang xuân. Đến mùa đông, ước tính có tới 84% khả năng El Nino sẽ phát triển ở mức "hơn trung bình" và 56% phát triển lên mức mạnh nhất, khiến nhiệt độ mặt biển ở Đông Thái Bình Dương cao hơn bình thường ít nhất 1,5 độ C. Điều này sẽ khiến một số khu vực của Mỹ, từ Nam California đến vịnh Mexico thời tiết ẩm hơn bình thường, trong khi khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương và thung lũng Ohio trở nên khô hơn. El Nino cũng làm tăng khả năng các khu vực Bắc Mỹ có nhiệt độ cao hơn trung bình. Diễn biến của El Nino cũng nằm trong dự báo bão của NOAA vào tháng tiết khô nóng, những dấu hiệu ban đầu của El Nino, đang làm các nhà sản xuất lương thực trên khắp châu Á lo ngại, trong khi nông dân châu Mỹ đang trông chờ vào mưa lớn để giảm nhẹ tác động của hạn hán nghiêm trọng. El Nino có thể khiến sản lượng thu hoạch trong mùa đông tại Úc giảm 34% so với các mức cao kỷ lục. Hiện tượng này cũng đang ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất dầu cọ và lúa gạo tại Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Phần lớn các năm nóng nhất trong lịch sử được ghi nhận vào thời gian El Nino xuất hiện. El Nino khiến nhiệt độ mặt nước biển ấm hơn bình thường tại khu vực Trung và Đông Thái Bình Dương gần xích đạo. Lần gần đây nhất El Nino xuất hiện là vào giai đoạn 2018-2019. Các nhà khoa học quan ngại mùa hè năm nay và năm sau có thể ghi nhận mức nhiệt kỷ lục ở lục địa lẫn trên biển. Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Chuyển sao tặng cho thành viên x1 x5 x10 Hoặc nhập số sao
YOMEDIA Bài học giúp các em hiểu được những giá trị cơ bản của văn học. Nắm vững những nét bản chất của hoạt động tiếp nhận văn học. Tóm tắt bài Giá trị văn học a. Khái quát chung Giá trị văn học là sản phẩm kết tinh từ quá trình văn học, đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cuộc sống con người, tác động sâu sắc tới con người và cuộc sống. Những giá trị cơ bản Giá trị nhận thức. Giá trị giáo dục. Giá trị thẩm mĩ. b. Giá trị nhận thức Cơ sở Là quá trình khám phá, lí giải hiện thực để chuyển hóa thành nội dung tác phẩm của nhà văn. Do sự giới hạn tồn tại trong không gian, thời gian, quan hệ xã hội của người đọc. Nội dung Hiểu được cuộc sống hiện thực phong phú. Hiểu được bản chất của con người. Hiểu bản thân mình hơn. c. Giá trị giáo dục Cơ sở Khách quan Nhu cầu hướng thiện Con người luôn khao khát một cuộc sống tốt lành, chan hòa tình yêu thương giữa người với người. Chủ quan Do thái độ tư tưởng, tình cảm của nhà văn. Nội dung Giúp con người rèn luyện bản thân mình ngày 1 tốt đẹp hơn. Có thái độ và lẽ sống đúng đắn. Đặc trưng của giá trị giáo dục của văn học Văn học giáo dục con người bằng con đường từ cảm xúc đến nhận thức bằng cái thật, cái đúng, cái đẹp của những hiện tượng sinh động. d. Giá trị thẩm mỹ Cơ sở Con người luôn có nhu cầu cảm thụ và thưởng thức cái đẹp Nhà văn bằng tài năng đã thể hiện cái đẹp của cuộc sống, của con người vào trong tác phẩm của mình giúp người đọc cảm nhận, rung động. Nội dung Văn học mang đến cho con người vẻ đẹp muôn màu của cuộc đời vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người…. Miêu tả, thể hiện cái đẹp của con người từ ngoại hình đến thế giới nội tâm phong phú tinh tế bên trong. Cái đẹp trong văn học không chỉ thể hiện ở nội dung mà còn ở hình thức nghệ thuật tác phẩm kết cấu, ngôn từ chặt chẽ, mới mẻ, độc đáo. e. Mối quan hệ giữa các giá trị văn học 3 giá trị có mối quan hệ mật thiết, không tách rời, cùng tác động đến người đọc khái niệm chân - thiện - mĩ của cha ông Giá trị nhận thức luôn là tiền đề của giá trị giáo dục. Giá trị giáo dục làm sâu sắc thêm giá trị nhận thức. Giá trị thẩm mĩ khiến cho giá trị nhận thức và giá trị giáo dục được phát huy. ⇒ Không có nhận thức đúng đắn thì văn học không thể giáo dục được con người vì nhận thức không chỉ để nhận thức mà nhận thức là để hành động. Tuy nhiên, giá trị nhận thức và giá trị giáo dục chỉ có thể phát huy một cách tích cực nhất, có hiệu quả cao nhất khi gắn với giá trị thẩm mĩ- giá trị tạo nên đặc trưng của văn học. Tiếp nhận văn học a. Tiếp nhận trong đời sống văn học Tiếp nhận văn học Là quá trình người đọc hòa mình vào tác phẩm, rung động với nó, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn từ, lắng tai nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo. Bằng trí tưởng tượng, kinh nghiệm sống, vốn văn hóa và bằng cả tâm hồn mình, người đọc khám phá ý nghĩa từng của câu chữ, cảm nhận sức sống của từng hình ảnh, hình tượng, nhân vật,… làm cho tác phẩm từ một văn bản khô khan biến thành một thế giới sống động, đầy sức cuốn hút. Tiếp nhận văn học là hoạt động tích cực của cảm giác, tâm trí người đọc nhằm biến văn bản thành thế giới nghệ thuật trong tâm trí mình. b. Tính chất tiếp nhận văn học Tính chất cá thể hóa, tính chủ động, tích cực của người tiếp nhận. Các yếu tố thuộc về cá nhân có vai trò quan trọng năng lực, thị hiếu, sở thích, lứa tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm sống,… Tính khuynh hướng trong tư tưởng, tình cảm, trong thị hiếu thẩm mĩ làm cho sự tiếp nhận mang đậm nét cá nhân. Chính sự chủ động, tích cực của người tiếp nhận đã làm tăng thêm sức sống cho tác phẩm. Tính đa dạng, không thống nhất Cảm thụ, đánh giá của công chúng về một tác phẩm rất khác nhau, thậm chí cùng một người ở nhiều thời điểm có nhiều khác nhau trong cảm thụ, đánh giá. Nguyên nhân ở cả tác phẩm nội dung phong phú, hình tượng phức tạp, ngôn từ đa nghĩa,… và người tiếp nhận tuổi tác, kinh nghiệm, học vấn, tâm trạng,…. c. Các cấp độ tiếp nhận văn học Có 3 cấp độ tiếp nhận văn học Cấp độ thứ nhất cảm thụ chỉ tập trung vào nội dung cụ thể, nội dung trực tiếp của tác phẩm ⇒ cách tiếp nhận đơn giản nhưng khá phổ biến. Cấp độ thứ hai cảm thụ qua nội dung trực tiếp để thấy được nội dung tư tưởng của tác phẩm. Cấp độ thứ ba cảm thụ chú ý đến cả nội dung và hình thức để thấy được cả giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Để tiếp nhận văn học có hiệu quả thực sự, người tiếp nhận cần Nâng cao trình độ. Tích lũy kinh nghiệm. Trân trọng tác phẩm, tìm cách hiểu tác phẩm một cách khách quan, toàn vẹn. Tiếp nhận một cách chủ động, tích cực, sáng tạo, hướng tới cái hay, cái đẹp, cái đúng. Không nên suy diễn tùy tiện. Bài tập minh họa Ví dụ Trình bày giá trị nhận thức và giá trị giáo dục của đoạn thơ sau Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá, dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Tây Tiến – Quang Dũng Gợi ý trả lời Giá trị nhận thức Nhận thức về hiện thực cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhận thức về hiện thực cuộc sống của người lính Tây Tiến Đời sống vật chất và tinh thần. Nhận thức về thái độ tình cảm của tác giả đối với người lính Tây Tiến… Giá trị giáo dục Giáo dục tình cảm yêu nước. Giáo dục tình cảm yêu mến, quí trọng người lính thời kì kháng chiến chống Pháp. Giá trị văn học là sản phẩm kết tinh từ quá trình văn học, đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cuộc sống con người, tác động sâu sắc tới con người và cuộc sống. Nó bao gồm những giá trị cơ bản Giá trị nhận thức, Giá trị giáo dục và Giá trị thẩm mĩ. Để nắm được những nội dung kiến thức cần đạt, các em có thể tham khảo thêm bài soạn chi tiết hoặc tóm tắt dưới đây Giá trị văn học và tiếp nhân văn học Giá trị văn học và tiếp nhận văn học tóm tắt 5. Hỏi đáp về văn bản Giá trị văn học và tiếp nhận văn học Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em. - Mod Ngữ văn 12 HỌC247 ZUNIA9 Bài học cùng chương ZUNIA9 XEM NHANH CHƯƠNG TRÌNH LỚP 12 YOMEDIA
Bài 5 Lý luận nhận thức 4 tiết I. MỤC TIÊU - Về kiến thức Hiểu được phạm trù thực tiễn, lý luận; thực chất của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác-Lênin cũng như vai trò của việc quán triệt nguyên tắc này trong việc phát triển lý luận ở Việt Nam; - Về kỹ năng Từng bước biết vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều trong học tập và hoạt động thực tiễn ở đội ngũ cán bộ; - Về trách nhiệm và thái độ Đứng vững trên lập trường nhận thức luận của triết học Mác-Lênin hiểu rõ bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều ở nước ta. II. NHỮNG NỘI DUNG CẦN NĂM VỮNG 1. Các nguyên tắc của lý luận nhận thức duy vật biện chứng 2. Nguồn gốc, bản chất của nhận thức 3. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức 4. Các giai đoạn cơ bản của quá trình nhận thức 5. Tính chất của chân lý III. CỤ THỂ NHƯ SAU 1. Các nguyên tắc của lý luận nhận thức duy vật biện chứng - Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan bên ngoài và độc lập với ý thức con người. Đây là nguyên tắc nền tảng của lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng. - Hai là, công nhận cảm giác, tri giác, ý thức nói chung là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, các cảm
Lý thuyết nhận thức xã hội là một lý thuyết học tập được phát triển bởi giáo sư tâm lý học Albert Bandura nổi tiếng của Stanford. Lý thuyết cung cấp một khuôn khổ để hiểu cách con người chủ động định hình và được định hình bởi môi trường của họ. Đặc biệt, lý thuyết mô tả chi tiết các quá trình học tập quan sát và mô hình hóa, và ảnh hưởng của hiệu quả bản thân đối với việc tạo ra hành vi. Bài học rút ra chính Lý thuyết nhận thức xã hội Lý thuyết nhận thức xã hội được phát triển bởi nhà tâm lý học Albert Bandura của Stanford. Lý thuyết xem con người là những tác nhân tích cực vừa ảnh hưởng vừa chịu ảnh hưởng từ môi trường của họ. Một thành phần chính của lý thuyết là học tập quan sát quá trình học hỏi các hành vi mong muốn và không mong muốn bằng cách quan sát những người khác, sau đó tái tạo các hành vi đã học để tối đa hóa phần thưởng. Niềm tin của các cá nhân vào hiệu quả bản thân của họ ảnh hưởng đến việc họ có tái tạo một hành vi được quan sát hay không. Nguồn gốc Thử nghiệm búp bê Bobo Vào những năm 1960, Bandura cùng với các đồng nghiệp của mình đã khởi xướng một loạt các nghiên cứu nổi tiếng về học quan sát được gọi là các thí nghiệm Bobo Doll. Trong những thử nghiệm đầu tiên , những đứa trẻ trước tuổi đi học được tiếp xúc với một người mẫu người lớn hung hăng hoặc không hung dữ để xem liệu chúng có bắt chước hành vi của người mẫu đó hay không. Giới tính của người mẫu cũng rất đa dạng, một số trẻ em quan sát người mẫu đồng tính và một số trẻ em quan sát người mẫu khác giới. Trong tình trạng hung hăng, người mẫu đã gây hấn bằng lời nói và thể chất đối với một con búp bê Bobo bị thổi phồng trước sự chứng kiến của đứa trẻ. Sau khi tiếp xúc với mô hình, đứa trẻ được đưa sang một phòng khác để chơi với những món đồ chơi có tính hấp dẫn cao. Để những người tham gia thất vọng, trò chơi của đứa trẻ đã bị dừng lại sau khoảng hai phút. Tại thời điểm đó, đứa trẻ được đưa đến một căn phòng thứ ba với đầy những đồ chơi khác nhau, bao gồm cả một con búp bê Bobo, nơi chúng được phép chơi trong 20 phút tiếp theo. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những đứa trẻ trong tình trạng hung hăng có nhiều khả năng thể hiện sự hung hăng bằng lời nói và thể chất, bao gồm cả sự hung hăng đối với búp bê Bobo và các hình thức gây hấn khác. Ngoài ra, các bé trai thường hung hăng hơn các bé gái, đặc biệt nếu chúng đã từng tiếp xúc với mẫu đàn ông hung hãn. Một thử nghiệm tiếp theo đã sử dụng một giao thức tương tự, nhưng trong trường hợp này, các mô hình tích cực không chỉ được nhìn thấy trong đời thực. Cũng có nhóm thứ hai quan sát bộ phim về mô hình hung hãn cũng như nhóm thứ ba quan sát bộ phim về nhân vật hoạt hình hung hãn. Một lần nữa, giới tính của người mẫu rất đa dạng, và những đứa trẻ phải chịu sự thất vọng nhẹ trước khi chúng được đưa đến phòng thí nghiệm để chơi. Như trong thí nghiệm trước, những đứa trẻ trong ba tình trạng hung hăng thể hiện hành vi hung hăng hơn những đứa trẻ trong nhóm đối chứng và những đứa trẻ nam trong tình trạng hung hăng thể hiện sự hung hăng hơn những đứa trẻ gái. Những nghiên cứu này là cơ sở cho những ý tưởng về học tập quan sát và mô hình hóa cả trong thực tế và thông qua các phương tiện truyền thông. Đặc biệt, nó đã thúc đẩy một cuộc tranh luận về những cách mà các mô hình truyền thông có thể ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ em vẫn tiếp tục diễn ra ngày nay. Năm 1977, Bandura giới thiệu Lý thuyết Học tập Xã hội, lý thuyết này tiếp tục hoàn thiện các ý tưởng của ông về học tập quan sát và mô hình hóa. Sau đó, vào năm 1986, Bandura đổi tên lý thuyết của mình là Lý thuyết Nhận thức Xã hội để nhấn mạnh hơn vào các thành phần nhận thức của học tập quan sát và cách hành vi, nhận thức và môi trường tương tác để hình thành con người. Học cách quan sát Một thành phần chính của lý thuyết nhận thức xã hội là học tập quan sát. Ý tưởng của Bandura về học tập trái ngược với ý tưởng của các nhà hành vi học như BF Skinner . Theo Skinner, việc học chỉ có thể đạt được bằng cách thực hiện hành động cá nhân. Tuy nhiên, Bandura tuyên bố rằng học tập quan sát, qua đó mọi người quan sát và bắt chước các mô hình mà họ gặp phải trong môi trường của họ, cho phép mọi người tiếp thu thông tin nhanh hơn nhiều. Học tập quan sát xảy ra thông qua một chuỗi gồm bốn quá trình Các quy trình chú ý tính đến thông tin được chọn để quan sát trong môi trường. Mọi người có thể chọn quan sát các mô hình thực tế hoặc mô hình mà họ gặp qua phương tiện truyền thông. Các quá trình lưu giữ liên quan đến việc ghi nhớ thông tin quan sát được để nó có thể được thu hồi và tái tạo thành công sau này. Quy trình sản xuất tái tạo lại ký ức của những quan sát để những gì đã học có thể được áp dụng trong các tình huống thích hợp. Trong nhiều trường hợp, điều này không có nghĩa là người quan sát sẽ sao chép chính xác hành động được quan sát, mà là họ sẽ sửa đổi hành vi để tạo ra một biến thể phù hợp với ngữ cảnh. Các quá trình tạo động lực xác định xem một hành vi được quan sát có được thực hiện hay không dựa trên việc liệu hành vi đó được quan sát để dẫn đến kết quả mong muốn hay bất lợi cho mô hình. Nếu một hành vi được quan sát được khen thưởng, người quan sát sẽ có động lực hơn để tái tạo nó sau này. Tuy nhiên, nếu một hành vi bị trừng phạt theo một cách nào đó, người quan sát sẽ ít có động lực để tái tạo nó. Do đó, lý thuyết nhận thức xã hội cảnh báo rằng mọi người không thực hiện mọi hành vi mà họ học được thông qua mô hình hóa. Tự hiệu quả Ngoài các mô hình thông tin có thể truyền đạt trong quá trình học quan sát, các mô hình cũng có thể làm tăng hoặc giảm niềm tin của người quan sát vào hiệu quả bản thân của họ để thực hiện các hành vi được quan sát và mang lại kết quả mong muốn từ các hành vi đó. Khi mọi người nhìn thấy những người khác giống như họ thành công, họ cũng tin rằng họ có thể thành công. Vì vậy, các mô hình là một nguồn động lực và cảm hứng. Nhận thức về hiệu quả bản thân ảnh hưởng đến lựa chọn và niềm tin của mọi người vào bản thân, bao gồm mục tiêu họ chọn để theo đuổi và nỗ lực họ bỏ ra, họ sẵn sàng kiên trì đối mặt với những trở ngại và thất bại trong bao lâu và kết quả họ mong đợi. Do đó, hiệu quả của bản thân ảnh hưởng đến động cơ của một người để thực hiện các hành động khác nhau và niềm tin của một người vào khả năng của họ để làm như vậy. Những niềm tin như vậy có thể tác động đến sự phát triển và thay đổi của cá nhân. Ví dụ, nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc nâng cao niềm tin về hiệu quả của bản thân có nhiều khả năng dẫn đến việc cải thiện thói quen sức khỏe hơn so với việc sử dụng giao tiếp dựa trên nỗi sợ hãi. Niềm tin vào hiệu quả của bản thân có thể là sự khác biệt giữa việc một cá nhân có cân nhắc việc thực hiện những thay đổi tích cực trong cuộc sống của họ hay không. Mô hình hóa phương tiện Tiềm năng xã hội của các mô hình truyền thông đã được chứng minh qua các bộ phim truyền hình dài tập được sản xuất để phát triển cộng đồng về các vấn đề như xóa mù chữ, kế hoạch hóa gia đình và địa vị của phụ nữ. Những bộ phim truyền hình này đã thành công trong việc mang lại sự thay đổi xã hội tích cực, đồng thời chứng minh sự phù hợp và khả năng ứng dụng của lý thuyết nhận thức xã hội đối với truyền thông. Ví dụ, một chương trình truyền hình ở Ấn Độ được sản xuất để nâng cao vị thế của phụ nữ và thúc đẩy các gia đình nhỏ hơn bằng cách đưa những ý tưởng này vào chương trình. Chương trình ủng hộ bình đẳng giới bằng cách đưa vào các nhân vật mô hình tích cực cho quyền bình đẳng của phụ nữ. Ngoài ra, còn có những nhân vật khác mô hình hóa vai trò của phụ nữ sống ít hơn và một số người chuyển đổi giữa sinh hoạt và bình đẳng. Chương trình nổi tiếng và mặc dù có câu chuyện khoa trương, nhưng người xem vẫn hiểu được thông điệp mà chương trình mô phỏng. Những người xem này học được rằng phụ nữ nên có quyền bình đẳng, có quyền tự do lựa chọn cách sống cuộc sống của họ và có thể giới hạn quy mô gia đình của họ. Trong ví dụ này và những ví dụ khác, các nguyên lý của lý thuyết nhận thức xã hội đã được sử dụng để tạo ra tác động tích cực thông qua các mô hình truyền thông hư cấu. Nguồn Bandura, Albert. "Lý thuyết nhận thức xã hội về thay đổi cá nhân và xã hội bằng cách cho phép phương tiện truyền thông." Giải trí-giáo dục và thay đổi xã hội Lịch sử, nghiên cứu và thực hành , được biên tập bởi Arvind Singhal, Michael J. Cody, Everett M. Rogers, và Miguel Sabido, Lawrence Erlbaum Associates, 2004, trang 75-96. Bandura, Albert. “Lý thuyết Nhận thức Xã hội về Truyền thông Đại chúng. Tâm lý học Truyền thông , tập. 3, không. 3, 2001, trang 265-299, Bandura, Albert. Cơ sở xã hội của tư tưởng và hành động Một lý thuyết về nhận thức xã hội . Prentice Hall, 1986. Bandura, Albert, Dorothea Ross và Sheila A. Ross. "Sự lây truyền của sự hung hăng thông qua việc bắt chước các mô hình hung hãn." Tạp chí Tâm lý học Xã hội và Bất thường, vol. 63, không. 3, 1961, trang 575-582, Bandura, Albert, Dorothea Ross và Sheila A. Ross. “Bắt chước các mô hình hung hăng qua dàn xếp trong phim”. Tạp chí Tâm lý học Xã hội và Bất thường, vol. 66, không. 1, 1961, tr. 3-11, Crain, William. Các lý thuyết về sự phát triển Các khái niệm và ứng dụng . Xuất bản lần thứ 5, Pearson Prentice Hall, 2005.
Đề cương ôn tập môn Tâm lý học đại cươngVnDoc xin giới thiệu bài Nhận thức cảm tính được chúng tôi sưu tầm và giới thiệu nhằm giúp các bạn nắm bắt kiến thức môn học một cách tốt hơn để có thể học và hoàn thành bài thi môn học một cách hiệu ý Nếu bạn muốn Tải bài viết này về máy tính hoặc điện thoại, vui lòng kéo xuống cuối bài Nhận thức cảm tính1. Khái niệm chung về cảm giác và tri Định nghĩa về cảm giác và tri Những đặc điểm cơ bản của cảm giác và tri Vai trò của cảm giác và tri giác2. Các quy luật cơ bản cảm giác và tri Các quy luật của cảm Các quy luật của tri giác3. Tính nhạy cảm và năng lực quan sát là những thuộc tính của nhân cách1. Khái niệm chung về cảm giác và tri Định nghĩa về cảm giác và tri giácMỗi sự vật, hiện tượng xung quanh ta đều được bộc lộ bởi hàng loạt các thuộc tính bề ngoài như màu sắc, hình dáng, kích thước, mùi vị hoặc âm thanh... Những thuộc tính này tác động đến từng giác quan của chúng ta và cho ta những cảm giác cụ thể. Từ những cảm giác cụ thể, riêng lẻ trên cơ sở kinh nghiệm mà con người có những hình ánh về đối tượng, tức là con người có tri giác về đối tượng. Ví dụ Nếu ta yêu cầu một người nhắm mắt lại rồi xòe ngửa bàn tay ra, ta đặt nhẹ vào lòng bàn tay họ một vật nhỏ và yêu cầu không được nắm tay lại để sờ mó sự vật đó thì chắc chắn họ sẽ không biết chính xác đó là vật gì, hình dáng, kích thước ra sao mà chỉ có thể biết được vật đó nặng hay nhẹ, nóng hay lạnh... nghĩa là chỉ mới phản ánh được từng thuộc tính bổ ngoài đang trực tiếp tác động vào lòng bàn tay, tức là mới có cảm giác về từng thuộc tính bề cũng ví dụ trên, sau khi đặt lên lòng bàn tay người đó một vật nhỏ, ta cho phép họ nắm tay lại, sờ mó đồ vật, thì lúc đó họ có thể nói được tên đồ vật ấy là gì, hình dạng, kích thước... của nó ra sao. Điều này có nghĩa là khi tiếp xúc với nhiều thuộc tính của đồ vật, người đó có thể phản ánh được một cách đầy đủ, trọn vẹn hơn các thuộc tính của nó, tức là anh ta đã tri giác được đồ vật. Vậy cảm giác, tri giác là gì?Cảm giác là quá trình tâm lí phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng giác là quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng Những đặc điểm cơ bản của cảm giác và tri giácTuy cùng nằm trong mức độ nhận thức cảm tính, song cảm giác và tri giác có những đặc điểm riêng mặc dù chúng có mối quan hệ mật thiết, chi phối lẫn nhau trong quá trình phản ánh các thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện Những đặc điểm cơ bản của cảm giácCảm giác có những đặc điểm cơ bản sau đâyCảm giác là một quá trình tâm lí, nghĩa là có mở đầu, diễn biến và kết thúc một cách rõ ràng, cụ thể. Cảm giác nảy sinh, diễn biến khi sự vật, hiện tượng khách quan hoặc một trạng thái nào đó của cơ thể đang trực tiếp tác động vào giác quan của chúng ta. Khi kích thích ngừng tác động thì cảm giác cũng dừng giác chỉ phản ánh từng thuộc tính cụ thể của sự vật, hiện tượng thông qua hoạt động của từng giác quan riêng lẻ. Do vậy, cảm giác chưa phản ánh được một cách trọn vẹn, đầy đủ các thuộc tính của sự vật, hiện tượng. Nghĩa là, cảm giác mới chỉ cho ta từng cảm giác cụ thể, riêng lẻ về từng thuộc tính của vật kích thích. Mỗi kích thích tác động vào cơ thể cho ta một cảm giác tương giác của con người khác xa về chất so với cảm giác của con vật. Điểm khác nhau cơ bản là cảm giác của con người mang bản chất xã hội. Bản chất xã hội của cảm giác của con người được thể hiện như sauĐối tượng phản ánh của cảm giác ở người không chỉ là những thuộc tính của sự vật, hiện tượng vốn có trong thế giới mà còn phản ánh những thuộc tính của sự vật, hiện tượng do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động và giao chế sinh lí của cảm giác ở người không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn chịu sự chi phối bởi hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ hai - hệ thống tín hiệu ngôn giác ở người chỉ là mức độ định hướng đầu tiên, sơ đẳng nhất, chứ không phải là mức độ cao nhất, duy nhất như ở một số loài động vật. Cảm giác ở người chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng tâm lí khác của con giác của người được phát triển mạnh mẽ và phong phú dưới ảnh hưởng của hoạt động và giáo dục, tức là cảm giác của người được tạo ra theo phương thức đặc thù của xã hội, do đó mang đặc tính xã dụ Nhờ hoạt động nghề nghiệp mà có người thợ “đo” được bằng mắt, người đầu bếp “nếm” được bằng mũi, người giáo viên có thể “nhìn” được bằng tai ý thức học tập của học sinh sau lưng Những đặc điểm cơ bản của tri giácTri giác được hình thành và phát triển trên cơ sở những cảm giác, nhưng tri giác không phải là phép cộng đơn giản của các cảm giác, mà là sự phản ánh cao hơn so với cảm giác. Do vậy, tri giác cũng có những đặc điểm giống với cảm giác, nhưng cũng có những đặc điểm khác với cảm giác có những đặc điểm giống với cảm giác nhưTri giác cũng là một quá trình tâm lí tức là có nảy sinh, diễn biến và kết thúc phản ánh những thuộc tính trực quan, bề ngoài của sự vật, hiện giác cũng chỉ phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp khi chúng tác động vào các giác quan của chúng điểm khác nhau cơ bản giữa cảm giác và tri giácNếu cảm giác phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng thì tri giác phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng. Tính trọn vẹn của tri giác là do tính trọn vẹn của bản thân sự vật, hiện tượng quy định. Kinh nghiệm có ý nghĩa rất lớn đối với tính trọn vẹn này, nên chỉ cần tri giác một số thành phần riêng lẻ của sự vật, hiện tượng, ta cũng có thể tổng hợp chúng thành một hình ảnh trọn vẹn của sự vật, hiện tượng. Sự tổng hợp này được thực hiện trên cơ sở phối hợp của nhiều cơ quan phân giác phản ánh sự vật, hiện tượng theo những cấu trúc nhất định. Cấu trúc này không phải là tổng số các cảm giác mà là sự khái quát đã được trừu xuất từ các cảm giác đó trong mối liên hệ qua lại giữa các thành phần của cấu trúc ấy ở một khoảng thời gian nào đó. Ví dụ Nhìn một bức tranh, trẻ hiểu được bức tranh đó vẽ công viên, trường học hay một cánh đồng vì các hình vẽ nằm trong một cấu trúc nhất định, có mối quan hệ qua lại xác định, do đó chúng tạo nên một bức tranh tổng thể công viên, trường học hay cánh đồng.... Sự phản ánh này không phải đã có từ trước mà nó diễn ra trong quá trình tri giác. Đó là tính kết cấu của tri giác là quá trình tích cực được gắn liền với hoạt động của con người. Tri giác mang tính tự giác, giải quyết một nhiệm vụ nhận thức cụ thể nào đó, là một hành động tích cực, trong đó có sự kết hợp các yếu tố của cảm giác và vận Những đặc điểm chung của nhận thức cảm tínhTừ sự phân tích những đặc điểm giống nhau và khác nhau giữa cảm giác và tri giác, chúng ta có thể nêu lên những đặc điểm chung của nhận thức cảm tính như sauNội dung phản ánh của nhận thức cảm tính là những thuộc tính trực quan, cụ thể, bề ngoài của sự vật, những mối liên hệ và quan hệ về không gian, thời gian chứ chưa phải là những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng trong thế thức phản ánh của nhận thức cảm tính là phản ánh trực tiếp bằng các giác quan chứ chưa phải là gián tiếp, khái quát bằng ngôn ngữ mặc dù trong nhận thức cảm tính của con người chịu ảnh hưởng của những tác động ngôn ngữ.Sản phẩm của hoạt động nhận thức cảm tính là những hình ảnh cụ thể, trực quan về thế giới, chứ chưa phải là những khái niệm, quy luật về thế đặc điểm trên đây cho thấy, nhận thức cảm tính mới chỉ là mức độ nhận thức ban đầu, sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con Vai trò của cảm giác và tri giáca. Vai trò của cảm giácTrong cuộc sống nói chung và trong hoạt động nhận thức nói riêng của con người, cảm giác có những vai trò quan trọng như sauCảm giác là hình thức định hướng đầu tiên của con người và con vật trong hiện thực khách quan, tạo nên mối liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và môi trường xung quanh. Lênin đã chỉ rõ “Cảm giác là mối liên hệ trực tiếp giữa ý thức và thế giới bên ngoài, là sự chuyển hóa của năng lượng kích thích bên ngoài thành hiện tượng ý thức”l. Tuy nhiên, đây là hình thức định hướng đơn giản nhất từ những mối liên hệ ban đầu của cơ thể với thế giới xung giác là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các hình thức nhận thức cao hơn. “Cảm giác là viên gạch xây nên toàn bộ lâu đài nhận thức”. Lênin cho rằng “Tất cả hiểu biết đều bắt nguồn từ kinh nghiệm, từ cảm giác, tri giác”. “Nếu không có cảm giác thì chúng ta không thể biết gì hết về những hình thức của vật chất, cũng như về những hình thức của vận động.”Cảm giác là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt động trạng thái hoạt hóa của vỏ não, nhờ đó đảm bảo hoạt động thần kinh của con người được bình thường. Các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này cho thấy, trong trạng thái “đói cảm giác”, các chức năng tâm lí và sinh lí của con người sẽ bị rối giác là con đường nhận thức hiện thực khách quan đặc biệt quan trọng đối với những người bị khuyết tật. Những người câm, mù, điếc đã nhận ra những người thân và hàng loạt đồ vật nhờ cảm giác, đặc biệt là xúc Vai trò của tri giácVới tư cách là một mức độ nhận thức cảm tính cao hơn cảm giác, tri giác có vai trò quan trọng đối với con người, nó là thành phần chính của nhận thức cảm tính, nhất là ở người trưởng giác là một điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh. Hình ảnh của tri giác thực hiện chức năng điều chỉnh các hành biệt, hình thức tri giác cao nhất, tích cực nhất, chủ động và có mục đích là quan sát, đã làm cho tri giác của con người khác xa tri giác của con vật. Cùng với sự phát triển và phức tạp dần lên của đời sống xã hội và của các thao tác lao động, quan sát trở thành một mặt tương đối độc lập của hoạt động và đã trở thành một phương pháp nghiên cứu quan trọng của khoa học cũng như của nhận thức thực Các quy luật cơ bản cảm giác và tri giácCũng như các hiện tượng tâm lí khác, cảm giác và tri giác ở con người diễn ra theo những quy luật nhất định. Việc hiểu biết và tính đến các quy luật này trong cuộc sống và trong công tác giáo dục là hữu ích và cần Các quy luật của cảm giáca. Quy luật ngưỡng cảm giácMuốn có cảm giác thì phải có sự kích thích vào các giác quan. Song không phải mọi kích thích vào giác quan đều gây ra cảm giác kích thích quá yếu không gây ra cảm giác, kích thích quá mạnh cũng dẫn đến mất cảm giác. Kích thích chỉ gây ra được cảm giác khi kích thích đó đạt tới một giới hạn nhất định Giới hạn mà ở đó kích thích gây ra được cảm giác gọi là ngưỡng cảm giác có hai ngưỡng ngưỡng cảm giác phía dưới và ngưỡng cảm giác phía cảm giác phía dưới là cường độ kích thích tối thiểu đủ để gây ra cảm giác. Khả năng cảm nhận được kích thích này gọi là độ nhạy cảm của cảm giác. Ngưỡng cảm giác phía trên là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn gây được cảm giác. Ví dụ, ngưỡng phía dưới của cảm giác nhìn thị giác ở người là những sóng ánh sáng có bước sóng là 380nm nanomet, lnm = Irm, ngưỡng cảm giác phía trên là vi giữa hai ngưỡng cảm giác nêu trên là vùng cảm giác được, trong đó có vùng cảm giác tốt nhất. Ví dụ, vùng phản ánh tốt nhất của cảm giác về ánh sáng là những sóng ánh sáng có bước sóng 565nm, của âm thanh là giác còn phản ánh sự khác nhau giữa các kích thích nhưng kích thích phải có một tỉ lệ chênh lệch tối thiểu về cường độ hay về tính chất thì ta mới cảm thấy có sự khác nhau giữa hai kích thích. Mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hay tính chất của hai kích thích đủ để phân biệt sự khác nhau giữa chúng gọi là ngưỡng sai biệt. Ngưỡng sai biệt của mỗi cảm giác là một hàng số. Ví dụ đối với cảm giác thị giác là 1/100, thính giác là 1/10...Ngưỡng cảm giác phía dưới và ngưỡng sai biệt tỉ lệ nghịch với độ nhạy cảm của cảm giác và độ nhạy cảm sai biệt Ngưỡng cảm giác phía dưới càng thấp thì độ nhạy của cảm giác càng cao, ngưỡng sai biệt càng nhỏ thì độ nhạy cảm sai biệt càng cao. Những ngưỡng này khác nhau ở từng loại cảm giác và ở từng Quy luật thích ứng của cảm giácĐể phản ánh được tốt nhất và bảo vệ hệ thần kinh, cảm giác của con người có khả năng thích ứng với kích thích. Thích ứng là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp với cường độ kích thích Khi cường độ kích thích tăng thì giảm độ nhạy cảm, khi cường độ kích thích giảm thì tăng độ nhạy dụ Khi ta đang ở chỗ sáng cường độ kích thích của ánh sáng mạnh mà vào chỗ tối cường độ kích thích của ánh sáng yếu thì lúc đầu không nhìn thấy gì cả, sau một thời gian mới dần dần thấy được mọi thứ xung quanh thích ứng. Trong trường hợp này xảy ra hiện tượng tăng độ nhạy cảm của cảm luật thích ứng có ở mọi loại cảm giác, nhưng mức độ thích ứng không giống nhau. Có loại cảm giác thích ứng nhanh như cảm giác nhìn, cảm giác ngửi; nhưng cũng có loại cảm giác chậm thích ứng hơn như cảm giác nghe, cảm giác năng thích ứng của cảm giác có thể thay đổi và phát triển do rèn luyện và tính chất nghề nghiệp... công nhân luyện kim có thể chịu đựng được nhiệt độ cao tới 50 - 60oc trong hàng tiếng đồng hồ, thợ lặn có thể chịu được áp suất 2atm trong vài chục phút đến hàng giờ....c. Quy luật về sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các cảm giácCác cảm giác của con người không tồn tại một cách biệt lập, tách rời mà luôn tác động qua lại lẫn nhau. Trong sự tác động này, các cảm giác luôn luôn thay đổi độ nhạy cảm của nhau và diễn ra theo quy luật sau Sự kích thích yếu lên một cơ quan phân tích này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của một cơ quan phân tích kia và ngược lại. Ví dụ, ta thường nói “Đói mờ cả mắt”.Sự tác động lẫn nhau của các cảm giác có thể diễn ra đồng thời hay nối tiếp trên những cảm giác cùng loại hay khác loại. Sự thay đổi của một kích thích cùng loại xảy ra trước đó hay đồng thời gọi là hiện tượng tương phản trong cảm giác. Có hai loại tương phản tương phản nối tiếp và tương phản đồng thời. Ví dụ Sau một kích thích lạnh thì một kích thích ấm lại làm ta thấy có vẻ nóng hơn. Đó là tương phản nối tiếp. Một người có làn da “bánh mật” mặc bộ đồ màu tối đen hoặc xám..., ta thấy họ càng đen hơn. Đó là tương phản đồng dạy học, sự tương phản được sử dụng khi so sánh hoặc khi muốn làm nổi bật một sự vật nào đó trước học sở sinh lí của quy luật này là mối liên hệ trên vỏ não của cơ quan phân tích và quy luật cảm ứng qua lại giữa hưng phấn và ức chế trên vỏ Các quy luật của tri giáca. Quy luật về tính đối tượng của tri giácHình ảnh trực quan mà tri giác đem lại bao giờ cũng thuộc về một sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài. Hình ảnh ấy một mặt phản ánh đặc điểm của đối tượng mà ta tri giác, mặt khác là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Nghĩa là con người khi tạo ra hình ảnh tri giác phải sử dụng một tổ hợp các hoạt động của các cơ quan phân tích, đồng thời chủ thể đem sự hiểu biết của mình về sự vật, hiện tượng dạng tri giác để “tách” các đặc điểm của sự vật, đưa chúng vào hình ảnh của sự vật, hiện tượng. Nhờ mang tính đối tượng mà hình ảnh tri giác là cơ sở định hướng và điều chỉnh hành vi, hoạt động của con Quy luật về tính lựa chọn của tri giácTrong tính lựa chọn chứa đựng tính tích cực của tri giác Tri giác là quá trình tách đối tượng ra khỏi bối cảnh. Vì vậy, những sự vật hay thuộc tính của sự vật nào càng được phân biệt với bối cảnh thì càng được tri giác dễ dàng, đầy đủ hơn. Sự lựa chọn trong tri giác không có tính chất cố định, vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể giao hoán cho nhau. Có vô vàn sự vật, hiện tượng tác động vào con người. Tri giác của con người không thể đồng thời phản ánh tất cả các sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động, mà chí tách ra một số tác động trong vô vàn những tác động ấy để tri giác một đối tượng nào đó. Đặc điểm này nói lên tính lựa chọn của tri luật này được ứng dụng nhiều trong trang trí, bố cục, trong dạy học, thay đổi kiểu chữ, màu mực khi viết bảng, minh hoạ...c. Quy luật về tính ý nghĩa của tri giácCác hình ảnh của tri giác luôn luôn có một ý nghĩa nhất định. Khi tri giác một sự vật, hiện tượng, bằng kinh nghiệm và vốn hiểu biết của mình, con người gọi được tên sự vật, hiện tượng đó Nó là cái gì? và xếp nó vào một nhóm, một loại nhất định. Ngay cả khi tri giác một sự vật hiện tượng không quen biết, ta vẫn cố gắng ghi nhận trong đó một cái gì đó giống với các đối tượng mà ta đã quen biết hoặc xếp nó vào một loại sự vật hiện tượng đã biết, gần gũi nhất đối với quá trình tổ chức hoạt động học tập cho học sinh, giáo viên cần phải tính đến quy luật này. Tài liệu trực quan chỉ được quan sát một cách đầy đủ, sâu sắc khi giới thiệu những tài liệu đã được kèm theo những lời chỉ dẫn. Việc gọi tên đầy đủ, chính xác các sự vật, hiện tượng mới mẻ khi tổ chức cho học sinh quan sát là rất cần Quy luật về tính ổn định của tri giácĐiều kiện tri giác một sự vật, hiện tượng nào đó của chúng ta có thể thay đổi độ chiếu sáng, vị trí trong không gian, khoảng cách tới người tri giác..., song chúng ta vẫn tri giác được sự vật hiện tượng đó như là sự vật, hiện tượng ổn định về hình dáng, kích thước, màu sắc... Hiện tượng này nói lên tính ổn định của tri ổn định của tri giác là khả năng phản ánh sự vật, hiện tượng không thay đổi khi điều kiện tri giác thay đổi. Ví dụ Trước mặt ta là một em bé, xa hơn, phía sau em bé là một chàng thanh niên. Trên võng mạc, mặc dù hình ảnh em bé lớn hơn hình ảnh chàng thanh niên, nhưng ta vẫn cảm thấy chàng thanh niên lớn hơn đứa trẻ. Tương tự, khi ta viết lên trang giấy, ta luôn cảm thấy trang giấy có màu trắng, dù là ta viết dưới ánh điện, ánh trăng hay ánh đèn dầu, lúc trời tối nhá nhem...Tính ổn định của tri giác phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trước hết là do cấu trúc của sự vật, hiện tượng tương đối ổn định trong một thời gian, thời điểm nhất định. Nhưng chủ yếu là do cơ chế tự điều chỉnh của hệ thần kinh cũng như vốn kinh nghiệm của con người về đối tượng. Tính ổn định của tri giác không phải là cái bẩm sinh, mà nó được hình thành trong đời sống cá thể, là điều kiện cần thiết của hoạt động thực tiễn của con người. Tuy nhiên, khi tri giác, cần khắc phục cái nhìn phiến diện, tĩnh tại về thế Quy luật tổng giácNgoài tính chất, đặc điểm của vật kích thích, tri giác của con người còn phụ thuộc vào bản thân chủ thể tri giác như nhu cầu, hứng thú, tình cảm, mục đích, động cơ... ví dụ “Yêu nhau củ ấu cũng tròn”.Sự phụ thuộc của tri giác vào nội dung đời sống tâm lí con người, vào đặc điểm nhân cách của họ được gọi là hiện tượng tổng giác. Điều đó chứng tỏ rằng ta có thể điều khiển được tri giác. Do vậy, trong quá trình dạy học và giáo dục, chúng ta phải tính đến kinh nghiệm, vốn hiểu biết, xu hướng, hứng thú, tâm lí của học sinh...; đồng thời việc cung cấp tri thức kinh nghiệm, giáo dục niềm tin, nhu cầu... cho họ sẽ làm cho sự tri giác của họ tinh tế, nhạy bén Ảo giácVí dụ Các vòng tròn như nhau nhưng nằm giữa các vòng tròn to hơn thì tri giác dường như bé hơn. Các trường hợp khác cũng có kết quả tương tự. Trong một số trường hợp, với những điều kiện thực tế xác định, tri giác có thể không cho ta hình ảnh đúng về sự vật. Hiện tượng này gọi là ảo giác là tri giác không đúng, bị sai lệch, tạo ra hình ảnh về đối tượng, hiện tượng không có thật. Những hiện tượng này tuy không nhiều, song nó có tính quy ta vận dụng ảo giác vào trong kiến trúc, hội họa, trang trí, trang phục... để phục vụ cho cuộc sống con lại, cảm giác và tri giác có nhiều quy luật, chúng quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau, góp phần làm phong phú nguyên liệu cảm tính cho các hoạt động nhận thức cao hơn tư duy, tưởng tượng. Trong quá trình dạy học và giáo dục, chúng ta cần vận dụng các quy luật cơ bản của cảm giác và tri giác một cách tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học và giáo Tính nhạy cảm và năng lực quan sát là những thuộc tính của nhân cáchTính nhạy cảm là năng lực cảm giác nhạy bén, tinh vi, chính xác của con người. Tính nhạy cảm nâng lực cảm giác được phát triển ở mỗi người với những mức độ khác nhau. Điều này phụ thuộc vào những tư chất tự nhiên cấu tạo và chức năng của các giác quan, kiểu loại thần kinh..., vào hoạt động của con người, vào việc rèn luyện và giáo dục cũng như những phẩm chất của nhân cách xu hướng, nhu cầu, hứng thú, khả năng chú ý, vốn kinh nghiệm cá nhân...Thông qua hoạt động và rèn luyện, tính nhạy cảm của cảm giác được nâng lên. Chẳng hạn, người đầu bếp sành sỏi có thể phân biệt được độ mặn của thức ăn khi nêm thêm một chút ít muối, người nhạc công lão luyện có thể phân biệt được âm thanh theo độ cao...Năng lực cảm giác tính nhạy cảm là nhân tố chủ yếu của năng lực quan sát. Năng lực quan sát là khả năng tri giác có chủ định, diễn ra tương đối độc lập và lâu dài, nhằm phản ánh đầy đủ, rõ rệt các sự vật, hiện tượng và những biến đổi của chúng. Năng lực quan sát của mỗi người một khác. Sự khác biệt này được thể hiện ở mức độ tri giác nhanh chóng, chính xác những điểm quan trọng, chủ yếu và đặc sắc của sự vật, hiện tượng đến mức nào. Năng lực quan sát được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động và rèn quan sát tốt, cần chú ý những điều kiện sauXác định rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nhiệm vụ quan bị chu đáo cả về tri thức lẫn phương tiện trước khi quan hành quan sát có kế hoạch, có hệ quan sát, cần tích cực sử dụng các phương tiện ngôn với trẻ nhỏ, nên tạo điều kiện cho trẻ sử dụng nhiều giác quan khi quan ghi lại kết quả quan sát, xử lí kết quả đó và rút ra những nhận xét cần khác biệt cá nhân về năng lực quan sát nói lên sự khác biệt cá nhân về kiểu tri giác. Con người có bốn kiểu tri giác cơ bản Kiểu phân tích, kiểu tổng hợp, kiểu phân tích - tổng hợp và kiểu cảm thuộc kiểu phân tích chủ yếu tri giác những thuộc tính, những bộ phận, chi tiết cụ thể của đối thuộc kiểu tổng hợp thiên về tri giác những mối quan hệ giữa các thuộc tính, các bộ phận, chú trọng đến chức năng, ý nghĩa của nó mà coi nhẹ các thuộc tính, chi tiết cụ thuộc kiểu phân tích - tổng hợp giữ được sự cân đối giữa phân tích và tổng hợp khi tri thuộc kiểu cảm xúc chủ yếu phản ánh những xúc cảm, tâm trạng mà đối tượng gây ra cho mình, ít quan tâm đến bản thân đối công tác dạy học và giáo dục, giáo viên cần chú ý đến những điểm khác biệt trên đây, để hình thành cho mỗi học sinh năng lực quan sát tốt tôi đã giới thiệu nội dung bài Nhận thức cảm tính về khái niệm và đặc điểm, các thuộc tính cơ bản của nhận thức cảm tính..Trên đây, VnDoc đã giới thiệu tới các bạn Nhận thức cảm tính. Ngoài ra, các bạn có thể tham khảo thêm nhiều tài liệu Cao đẳng - Đại học cũng như Cao học khác để phục vụ quá trình nghiên cứu hiệu quả hơn.
bài học nhận thức